MATRIX – MA TRẬN
Có 1 số vấn đề Admin sẽ nêu ra trong bài viết này.
Đầu tiên, vì chữ Hán đã không còn được dùng phổ thông trong tiếng Việt nữa nên có thể gây ra không ít khó khăn khi chúng ta tiếp xúc với những thuật ngữ Hán-Việt. Có nhiều thuật ngữ khi nghe vào không hiểu được ngay, có các thuật ngữ dễ hiểu nhầm nội hàm, hoặc có các thuật ngữ không biết phải giải thích thế nào là thoả đáng…
Đối với các thuật ngữ phiên âm Hán-Việt từ gốc tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên/Hàn thì chúng ta có cơ sở để đối chiếu và phân tích. Một số thuật ngữ đã được cải biên riêng cho tiếng Việt, nhưng nếu không có Hán tự, hay người dịch thuật không để lại giải thích cho người đời, thì đôi khi chúng ta cũng có chút bối rối. Ví dụ thuật ngữ “ma trận”.
Từ thuật ngữ “củ trận” 矩陣 của tiếng Trung Quốc, người Việt đã cải biên thành “ma trận” để tránh âm tiết “củ” nghe mơ hồ.
– củ 矩: hình vuông, hình chữ nhật
– trận 陣: khái niệm chung cho hàng và cột.
Ma trận có dạng hình chữ nhật m x n, gồm m hàng (hàng 行) và n cột (liệt 列) nên tiếng Trung Quốc mới gọi là “củ trận” 矩陣. Tiếng Nhật gọi ma trận là “hàng liệt” – “gyō-retsu” 行列 (ぎょうれつ) và tiếng Hàn gọi là “hàng liệt” – “haeng-ryeol” 행렬.
“Ma” trong “ma trận” là gì? Người sáng tạo thuật ngữ không nói rõ, nhưng trong số tất cả các chữ “ma” Hán-Việt thì chữ “ma” 魔 hợp lí nhất, có nghĩa là ma quái, ma thuật. Các bạn nào từng tính toán bằng ma trận toán học sẽ thấy nó khá là ma quái.
Vấn đề thứ 2, đứng ở góc độ chơi chữ, “ma trận” là 1 từ phiên âm kết hợp ngữ âm – ngữ nghĩa. Ngữ âm có nét tương đồng với “matrix” của tiếng Anh, “matrice” của tiếng Pháp… Vì vậy có thể giả định, người sáng tạo thuật ngữ “ma trận” khi cải biên từ gốc “củ trận” đã nảy ra ý tưởng “ma” khi nhìn thuật ngữ phương Tây.
https://www.facebook.com/share/p/1cewYPeSVe/
